何 乙支 譜 族 娥 媚 上 村 青 玫 社 清 威 縣 河 內 城 浦

(娥媚上村青玫社清威縣河內城浦)

Ẩm thủy tư nguyên


Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

MỘT SỐ BÀI DI NGÔN CỦA ĐỆ THẤT THẾ TỔ HÀ SỸ NGHỊ MÙA XUÂN NĂM 1946


Bài 1

Mừng dân quốc đầu năm Bính Tuất,
Chốn thư phòng phảng phất hương lan,
Nghĩ mình nhuốm bệnh thân tàn,
Di ngôn mấy chữ dặn đàn tử tôn.
Nòi Hà phái biệt tổ tông,
Lê triều bá tước sinh đồng năm chi,
Tông Sơn tới trại Nga My
Cùng Hoàng, cùng Nguyễn lập bia Đức Bà;
Văn, hiệu sinh khai khoa hai cụ,
Võ, dựng cờ gò cũ Chúc Sơn,
Lại thêm phù thủy, phép tiên,
Nho, y, lý số làm ơn mọi nhà.

Chú thích:
- Tông Sơn: Thanh hóa bây giờ, xưa họ Hà từ Thanh ra
- Họ Hà họp cùng họ Hòang, họ Nguyễn ở Nga My lập bia Đức Bà ở chiêu dưới và cùng xây dựng thành làng hiện nay.
- Đời Lê có hai cụ Tổ đỗ Hiệu sinh tức cử nhân
- Xưa cụ tổt có tham gia đắp gò ở Chương Mỹ để chống giặc thời nhà Lê (đắp gò ở Chúc Sơn)
- Xưa họ Hà nhiều nhân tài nho, y, lý số.


----------------------------------


Bài 2
Ta thuộc chi ất họ Hà,
Nhờ cụ Thủy tổ lập nhà hướng Canh;
Có sơn, có thủy rành rành,
Chín đời truyền mãi xây thành ấm no.
Lấy nông nghiệp, y, nho làm gốc,
Đủ năm đời dạy học thảnh thơi,
Biết bao công đức với đời,
Bao làng trọng vọng, bao người đội ơn;
Đệ Tam Tổ mới phân bốn phái
Phái trưởng nhà, phái tại Hà Đoan,
Một dòng canh độc an toàn,
Đinh, Ninh, Bao, Định nối truyền miếu duyên,
Ngành vào Dương Kệ Saó Sơn,
Có Cửu phẩm Bảo làm Tiên chỉ làng,
Lê Trinh, Liễu Bỉnh rõ ràng,
Làm trùm, làm trưởng khắp sang đạo đời.

Chú thích:
- Hướng Canh là hướng Tây. Trước đây nhà Cụ làm hướng Tây
- Hà Đoan là ông Đỗ Uẩn, con là Ban Đằng Dịch
- Đinh, Ninh, Bao, Định là tên bốn cụ nhà ông Đoan
- Dương Kệ có núi Sáo Sơn, cụ Bảo làm Tiên chỉ làng
- Lê, Trình, Liễu, Bỉnh là bốn cụ trong ngành Dương Kệ
- Ngành Dương kệ các cụ cũng làm thầy, làm trùm xóm đạo


Đệ tử phái ra nơi Hòa Mã,
Thuộc Hà Thành, còn mả quê ta,
Tổ là Như Tạo, họ Hà,
Do là Cửu phẩm, Túc là Cử nhân,
Đến Hà Văn Đốc cường thân,
Nho, y nối nghiệp, võ văn một nhà.
Cụ trưởng Phái, tự Hà Bá Ích,
Lập nhà thờ rộng tích điền viên,
Cày mừơi hai mẫu tư điền,
Làm chi thu tức, thu tiền thóc dân,
Đời vua Minh Mệnh đầu xuân,
Ra ngôi Thủ Sĩ làm tân đại đình,
Trước làm Gia Tự thí trình,
Rồi đem thợ ấy làm đình giúp dân.

Chú thích:
- Hòa Mã là làng ngoại thành Hà nội,
- Cụ tổ phái Hòa Mã là cụ Như Tạo,
- Cụ Do làm Cửu phẩm, cụ Túc đỗ cử nhân,
- Trưởng ngành là Cụ Đốc.
- Ngôi mộ phái Hòa Mã hiện nay táng tại chùa dưới,
- Xưa có chức thu chi như tài chính bây giờ,
- Thủ Sĩ là chức phận theo tuổi tác như cụ Đầu Râu
- Cụ Bá Ích đón hai hiệp thợ về làm nhà thờ chi rồi mời dân đến chọn một hiệp giỏi hơn cho ra làm đình. Nhà thờ và Đình cùng làm rồi cùng bị giặc đốt năm 1949.




Bài 3

Bao công sáng nghiệp trùng tân,
Làm dân con phải ghi ân đời đời,
Xuân thu tuổi sáu hai ngoài,
Mồng ba tháng 6 chầu trời hôm mai,
Đến cụ giỗ tháng hai mồng 7,
Tính thông minh lừng lẫy văn chương,
Chăm chăm hai chữ khoa tràng,
Mở nền thi lễ quyết đường khôi khoa,
Bóng dâu khi đã tà tà,
Lập trường dạy học, cảnh già tiêu dao,
Môn sinh ơn nặng biết bao,
Tú tài Hà tuyển dự vào hiên Tây,
Tậu ruộng làm hậu thờ thầy,
Đỉnh đồng, đối khảm ơn dày Đẩu, sơn,
Môn tử truyền đến môn tôn,
Sư sinh nghĩa trọng còn truyền đến nay,
Phú phong phúc thọ ai tày,
Năm mươi tám tuổi cưỡi mây chầu trời.

Chú thích:
- Cụ hưởng cảnh phòng lưu trang nhã, thọ 58 tuổi, kỵ ngày 7/2 ( Bài thơ này 4 câu đầu nói về Đệ Tam Thế tổ, nhưng ngày giỗ theo gia phả thì lại là mồng 4 và thọ 60 tuổi, sau đó là nói về Đệ Tứ Thế Tổ - Đức chú thích).
- Ông Hà Tuyển cùng bạn học tậu ruộng là hậu thờ cụ, cung tiến bộ thất sự bằng đồng và đôi câu đối hoành phi khảm trai.
- Tuổi luống về già mở trường dạy học. Học trò có cụ Hà Tuyển tú tài
- Cụ đã nhiều lần lăn lộn thi cử trong trường ốc
- Cụ thọ sáu mươi hai, ngày giỗ mồng 3 tháng 6.

------------------------------------------------------





Bài 4

Hoa sinh Đan Quế hai chồi, ( nói về Đệ Ngũ Thé tổ)
Doãn Cung là trưởng, thứ hai Pháp Thừa,
Tự trực Kiêm hậu thờ nhị giáp
Giỗ tháng năm 21 đó mà,
Bề gái sinh được ba bà
Bà Bá, bà Đễ, cùng ra bà Hào,
Ruộng cho một mẫu hai sào,
Đến nay con cháu ai mà cúng cho.
Đến cụ trưởng thuần tu nhân đức,
Dòng thi nhân giữ mực thi gia
Tìm thày kết bạn phương xa,
Mấy kỳ khảo khóa, mấy khoa thí tràng,
Thày đồ luyện tập văn chương,
Khổng, Nhan mến đạo, y phương cứu người,
Học trò gần một trăm người,
Lê Đồng, Lê Nở mấy ngươi trưởng tràng.

Chú thích:
- Cụ giỗ tháng 2, sinh được hai nam, ba nữ, trưởng là Doãn Cung
- Thứ là Trực Kiểm gọi là cụ Hậu hai không có con, làm 2 hâu cho cháu là cụ Mật thừa tự
- Cụ bà Đễ dòng nhà Ba Non ( Ba Miên), Cụ bà Bá dòng nhà Bách Mẫu, cụ bà Hào dòng nhà Tư Thiệu, anh Cường, Bường
- Cụ là người hiếu học, lăn lộn trong trường ốc, không toại nguyện, trở về dạy học. Cụ Lê Nở trưởng tràng, con cháu là Huy, Hiểu làm học trò


----------------------------------------




Bài 5.

Năm Quý Tỵ (Đây là Đệ Ngũ Thế Tổ, cụ sinh 1850, mất năm 1901, chùa đổ năm 1893 là hợp lý - Đức chú thích), chùa làng siêu đổ,
Đứng hưng công củng cố Linh am,
Còn bia ghi tạc công làm,
Bản văn phật giáo lưu am đến giờ,
Thảnh thơi vãn việc nhàn du,
Mười hai tháng chạp biệt từ chia tay
(Đức: bản gia phả lại ghi là 11/10 ?)
Sân hòe tươi tốt hai cây,
Tiên sinh (Vĩnh Thuận tiên sinh) là trưởng, cụ Hai ( cụ Mật ), Độ thờ,
Mật Phó Hào, chuông chùa dự đúc,
Điều ( bố ông Độ) Lý Hào, Độ lúc còn thơ
Nữ lưu sinh bốn bà đáng giá,
Cũng Tổng, Tuần, Lý, Phó, môn cao,
Bà Thanh, Tỷ, Tít, Thơ Đào
Nữ, nam, mỗi phận 5 sào ruộng nương
Đời đời phân sản, phân hương,
Non mòn, bể cạn bởi đường nữ gia


Chú thích:
- Cụ hưng công xây dựng lại ngôi chùa, nay còn ghi bia công lao của cụ. Cụ mất ngày 12/12, sinh hạ được hai ông và bốn bà. Cụ Trường ở nhà thờ , cụ Hai là cụ Phó Mật nay Độ thờ.
- Bốn bà như sau: Cụ Hoan nhà Giáo Đạt, cụ Chiều vô tự ( Tư Khóa thờ), cụ Phó Đồ dòng nhà Tuyên Huấn thờ, cụ Lang Thoái, nay nhà Mưu thờ.


----------------------------------------



Bài 6.

Đến cha ta hiệu là Vĩnh Thuận,
Sớm thông minh cẩn thận nho phong,
Văn hay, chữ tốt nối dòng,
Chăm đường dạy học, vui trong văn bài,
Những mong thi đức, thi tài,
Ba mươi lăm tuổi đã sai ước nguyền,
Quế hòe hai cỗi đoàn viên,
Nhờ đức Tổ Mẫu cần chuyên vun trồng,
Trưởng là Sỹ Nghị nối dòng,
Thứ Hương Hào Thức, một dòng hiền lương,
Con Thụy, Tư Khóa, cháu Bàng,
Gái trai tam đại đồng đường vẻ vang,
Môn sinh Lê Hòa Trưởng Tràng
Hai chín tháng chín lễ thường dâng nhang,
Kể từ ấy nhà càng bức xúc,
Song thân về ta lúc còn thơ,
May nhờ tổ mẫu tuổi già
Áo cơm chăm chút vượt qua giữ gìn

Chú thích:
Cụ thiên tư thông minh, chăm lo đèn sách, giúp trẻ học hành, nhưng mệnh ngắn, tuổi mới 35. Cụ sinh được hai ông nhờ Tổ mẫu chăm nuôi khôn lớn vẫn giữ được nếp nhà dòng dõi thư hương


---------------------------------------------------------------------------------------------------------


Bài 7.


Lại cho tập bút nghiên kinh sử
Khi trưởng thành cưới vợ hòa hai
Công lao chăm đủ 4 đời
Con cháu nên biết công người hiền nhân
Lại chăm tích đức thi ân,
Hương lân nhiều kẻ hàm ân đến giờ
Khác chi trời đất cao dày
Giang sơn còn đó, ơn này như tân,
Qua nhanh 68 mùa xuân,
25/4 từ trần biệt ly ( nói về Tổ Mẫu đệ Ngũ Thế tổ- Đức CT)
Ta nối nghiệp vốn chăm kinh sử
Quyết khoa danh rực rỡ môn đình,
Lên 5 học đức Tiên sinh
Khi tám, chín tuổi có danh học tài,
Mười ba tuổi tập ngoài ông ngoại,
Nhất tràng kỳ khen nối con dòng,
Mười năm học Tổng Sư công
Quốc ngữ, toán pháp đều thông mọi đường
Mười bảy tuổi ra trường cụ Tú
Lê Tịnh chăm, dạy đủ văn bài,
Ra thi, thực chẳng kém ai,
Đậu Tuyển, đậu Khóa đỗ hai bằng liền,
Năm Ất Mão đề danh đi hạch ( 1915 – 20 tuổi- Đức CT)
Quyết suôi Nam giật phắt bảng vàng
Ngán thay số chẳng rỡ ràng,
Xem mình thấy lại thêm thương nỗi mình
( Thực dân Pháp xóa bỏ khoa thi Nam- Ông Ba CT)
Nghiệp công danh thất tình chẳng ngỡ
Xoay học ngay pháp tự theo đời
Thanh niên tuổi mới đôi mươi
Cư tang Tổ Mẫu thành người bó chân ( Tổ Mẫu là bà nội của cụ sinh năm Mậu Thân, 1848, mất năm Ất Mão, 1915, thọ 68 tuổi – Đức CT)
Trời hỡi trời cũng thân cơm cháo
Đã sớm hôm người bảo học trò,
Gặp khi Tần Hán nhà nho,
Bên thân chẳng lợi thì so bên nào
Kém niên nào có lợi nào
Bỗng không sầu não chuốc vào, ngán thay.
Hai tám tuổi làm ngay thư ký
Học Hà Đông, ứng thí, lĩnh bằng
Khai khoa, Hộ lại làm xong,
Lập cải lương Hội, đối chăng Nguyễn – Hà
Triện hộ tịch cầm vừa 6 tuổi
Từ dịch về nối lấy nghiệp nho ( 6 năm làm Hộ Lại, lại trở về dạy học – Đức CT)
Lên Cao Bộ dạy học trò,
Chắt Cơ, Trương Sáu, hai nhà đón nuôi
Cải lương ép làm người Phó Hội,
Cùng anh em ứng với việc dân,
Nào Hộ Lại, nào Trương Tuần,
Thủ quỹ, Thư ký, tay chân thiếu gì,                                 
Nghênh ngang một cõi biên thùy,
Dân thôn chỉnh đốn thiếu gì tự do,
Vào việc phải để cho Hội tế,
Bày trò vui lắm vẻ trong làng
Lại họp tứ giáp đồng minh
Làm đơn chia giảm lệ trình phân minh,
Kỳ Yên đứng tế một mình
Giảm cỗ nhất lão trong đình bỏ đi
Lại dựng thêm nhà bia cho Hội,
Làm cầu Diếm ở cõi Ngõ Ba
Còn xây dựng hậu chi ta họ Hà
Tảo mộ tế tổ đề ra
Cùng nhau khuya sớm hương hoa phụng thờ
Vừa năm tuổi chạ tới ngôi
Đêm ngày hầu thánh đứng ngồi đình chung
Thời chấp chính vui lòng già trẻ
Chốn hương thôn nhiều kẻ tụng ca
Trong vùng câu chuyện gần xa,
Giang sơn đâu có một nhà chủ trương.
Chẳng qua gặp những đồ nô bộc
Chỉ quen thời, quen thói nịnh xu
Trưởng nam chẳng lựa cương nhu ( Bác Huyên – Đức CT)
Hậu sinh mà hiểu kẻ ngu người đần
Khen tài cũng đủ võ văn
Đánh tên trùm sỏ ngã lăn giữa đình
Biết bao mưu kế công trình
Được thua, thua được, phận mình vẫn tươi
Bày con sinh đủ bảy người,
Trai đà 3 cậu, gái thời 4 cô,
Trưởng nam Huyên đủ Y, nho,
Trương Tuần xuất chính, ngán cho sớm về, ( mất năm 33 tuổi – Đức CT)
Lý hào tiện Thuyết thứ hai
Thờ gia tiên phải lễ nghi kính thành,
Tam nam Đính học hành cũng khá,
Tuổi 15 đã đỗ hai bằng,
Giáo viên dạy trẻ nối dòng
Thiếu niên tiền đội nhi đồng trưởng ban
Tuổi thơ ấu khá khen cứng cỏi
Buổi loạn ly thạo giỏi, ấm no
Ta lo dạy dỗ học trò
Bảy làng truyền dạy một bồ chuyện kinh
Buổi đầu gặp lúc văn minh
Say tình sư đệ, thỏa tình nước mây,
Cao Bộ, Phù Lạc, Kim Bài,
Tràng Cát, Quán Cốc cùng hai làng này,
Vũ Bùi Làn trưởng trường đây,
Ba Son My Hạ cho ngay biệt tràng
Kể chẳng được giàu sang đức trạch
Năm mươi năm thỏa thích trên đời
Mặc lòng vui lắm trò chơi,
Cầm kỳ, thi, tửu, chẳng ngơi lúc nào,
Dặn con chớ chắc cha là phải
Hãy tùy thời thay đổi mới hay
Kiệm cần giữ lấy nghiệp này
Phận yên no ấm chớ say lợi quyền,
Nhờ túc phúc tự nhiên hưng khởi
Chắc còn nhiều rực rỡ vinh hoa
Năm mươi hai tuổi đã già
                                                                               
Cậu ba nối:
Đến khi sáu bảy đã xa cõi trần
Nôm na mấy chữ xa gần
Gọi là di chúc, gọi là di ngôn.


-------------------------------------------

Bài 8

Dặn rằng phi thổ bất thành,
Làm quan có mả, rành rành xưa nay,
Địa lý đạo, thực tin thay
Ta đã làm thày chứng nghiệm biết bao,
Dặn con cháu nhớ xoay hướng mả
Đã có nhà cẩu thả khổ thay,
Muốn làm cải cát làm ngay
Chuẩn bị năm trước đón thày xem đi
Yên rồi, chớ có chuyển di
Trước là tích đức, sau là tầm long,
Nhà ta gốc vốn dòng bậc khá
Do tổ phần Đống Cá sinh ra
Phân chi lại được dương cơ
Giáp Canh hướng ấy phụng thờ muôn năm
Tả thu tốn thủy cục kim
Mạch xa dẫn tự chùa am dẫn vào
Tam Thai Ngũ nhạc tiền triều
Hổ thủy, hổ mạch đủ điều uy linh
Dặn con cháu giữ hết mình
Muốn làm to vẫn giữ lấy hướng nền
Còn nhiều phú quý vẹn tuyền
Non Nga, nước Hat vững bền dài lâu
Đã nhiều sớm nắng chiều mưa
Đã nhiều sấm chớp phong ba dãi dầu
Nhà ta chẳng lo phải cầu
Vững như tùng bách rễ sâu tỏa cành
Ngàn năm giữ mãi màu xanh
Bên dòng sông Hát chảy quanh lững lờ
Đầu xuân ghi mấy vần thơ
Ghi điều quá khứ dặn dò cháu con
Tổ tiên công nặng núi non
Gắng lên nòi giống ta còn vươn cao
Thỏa lòng khát vọng ước ao
Muôn hoa đua nở đón chào ngày xuân

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Các thế hệ Hà Ất chi


                               
CÁC BẬC LIỆT TỔ ĐỆ NHẤT THẾ TỔ

         * Cụ ông: Hà Quý Công, hiệu Tuân Nhân. Kỵ ngày 15/01 hàng năm Âm lịch
          *  Cụ bà: Nguyễn Quý Thị, hiệu Từ Lợi. Kỵ ngày 23/11 hàng năm âm lịch
      Mộ 2 tổ ở xứ Đồng Thanh, ruộng nhà ông Kiệu ( vườn dọn Đồng Thanh)



 ĐỆ NHỊ THẾ TỔ

·        Tổ phụ: Hà Quý Công, hiệu Trân Như, kỵ ngày 10/8 âm lịch. Mộ xứ Đồng Thanh, ruộng nhà ông Uẩn.
·        Tổ mẫu: Nguyễn Quý Thị, hiệu Từ Y, kỵ ngày 24/11 âm lịch. Mộ xứ Đồng Thanh, ruộng ông Kiệu.
·        Ghi chú: Cụ tổ sinh hạ 4 ngành:
-         Ngành trưởng là cụ Đệ tam Thế tổ
-         Ngành hai là nhà ông Uẩn ( Ban),
-         Ngành 3 ở thôn Dương Kệ, Chương Mỹ, trưởng ngành là Hà Văn Tuyết,
-         Ngành 4 ở Hoà Mã, ngoại thành Hà Nội, trưởng ngành Hà Văn Đốc.
ĐỆ TAM THẾ TỔ
·        Tổ phụ: Dự Kỳ Anh Hội
          Hà Quý công, tự Bá Ích, hiệu Phúc Hiền. Thọ 60 tuổi, kỵ ngày 4-6 âm lịch. Dưới triều Minh Mệnh (1820- 1840 nhà Nguyễn – Đức chú thích) giữ chức Thủ Sĩ ( Đầu Râu), được giao quyền làm đình làng. Trước gọi thợ làm nhà thờ để tuyển thợ làm đình. Nay đình và nhà thờ cùng bị giặc Pháp đốt năm 1949.
* Tổ mẫu: Nguyễn Quý Thị, hiệu Từ chi. Kỵ ngày 11/3 âm lịch. Mộ hai cụ táng chung với cụ Phó Điều ở Hóp
ĐỆ TỨ THẾ TỔ
Dự kỳ Anh Tư Văn Hội
·        Tổ phụ: Hà Quý Công húy Trống, tự Đắc Trúng, hiệu Khắc Khoan tiên sinh. Sinh năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 ( tức năm 1816- Đức chú thích). Mất năm Tự Đức 21- Mậu Thìn ( tức năm 1868 - Đức chú thích ), thọ 53 tuổi. Kỵ ngày 07/02 âm lịch. Mộ ở  Gò Dài bãi
·        Cụ có 3 bà:
-         Bà cả  Nguyễn Quý Thị, húy Huề, hiệu Từ Thanh, không có con. Kỵ ngày 06/7, mộ tại ruộng Đồng Thanh, chủ ruộng ông Kiệu, ngoại trưởng ông Hát Khanh.
-         Bà kế Nguyễn Quý Thị, húy Bồi, hiệu Từ Nguyệt. kỵ ngày 28/3, mộ ở Đống Mồi ( góc Tây nam) sinh hai nam, ba nữ; Cụ quê làng Thanh Thần, nay Độ thờ
-         Bà ba ( lẽ)  Nguyễn Thị húy Tót, hiệu Diệu Tốt, không có con. Kỵ ngày 30/8, mộ ở bãi ( Độ thờ).
*Ghi chú: Tổ phụ học thức sâu rộng, dự thi mấy khóa không đậu, về mở trường dạy học, môn sin trên trăm người, trưởng tràng là Tú tài Hà Trọng Tuyển ( con cháu là ông Huấn bây giờ). Cán trường ( lớp phó) là Hà Bao. Học trò làm một hoành phio , đôi câu đối sơn son thiếp vàmg thờ người (1949 giặc đốt nhàg, Hoành phi cháy mất, chỉ còn câu đối). Mộ Người táng ở bãi trên Gò Dài, song tang với cháu là oong Huyên ( tức ông Trương Chờ)._

ĐỆ NGŨ THẾ TỔ

·        Tổ phụ: Tiền khóa sinh dự kỳ Anh Tư Văn hội, Quý công, húy Tự Đắc Phượng ( Nhương), hiệu Doãn Cung Tiên sinh. Sinh năm Canh Tuất đời Tự Đức ( 1850 – Đức chú thích), mất năm Tân Sửu, Thành Thái thứ 14 ( tức năm 1901 – Đức chú thích), thọ 52 tuổi,. Kỵ ngày 11/10 âm lịch. Mộ xứ Đồng Thanh, góc Con Kim.
Cụ  dạy rất đông học trò, sinh hạ được hai nam, bốn nữ gồm:
-         Đệ lục Thế tổ ( thân sinh ra Đệ thất thế tổ) và Đệ lục Thúc tổ ( chắc là ông nội của ông Độ - Đức chú thich)
-         Tổ Cô 1 là cụ Hoan đẻ ra ông Cai Hoan
-         Tổ Cô 2 là Cụ Chiều,
-         Tổ Cô 3 là cụ Phó Đồ, cháu trưởng là Tuyên,
-         Tổ Cô 4 là là cụ Thoái, cháu là Mưu.
* Tổ mẫu: Nguyễn Quý Thị, húy Yên, hiệu Từ Yến. Sinh năm Mậu Thân ( 1848- Đức chú thích), mất năm Ất Mão ( 1915- Đức chú thích). Thọ 68 tuổi. Kỵ ngày 25/4 âm lịch. Mộ góc Con Kim xứ Bãi; Ngoại trưởng là ông Mời.
ĐỆ LỤC THẾ TỔ
·        Tổ phụ: Quý công, húy Khiêm, hiệu Vĩnh Thuận Tiên sinh. Sinh năm Quý Dậu, mất năm Bính Ngọ, Thành Thái 18 ( 1873-1906, hưởng dương 34 tuổi- Đức chú thích). Kỵ ngày 29/9 âm lịch. Mộ xứ Cầu Nẩy, ruộng Thượng Thanh. Song táng với Thúc Đường tổ ( ông Uẩn)
Sinh hạ hai nam:
-         Đệ Thất Thế Tổ - Cụ trưởng Sỹ Nghị
-         Đệ Thất thúc Tổ, Cụ chú Đắc Thức ( Chắc là ông Hương Tuyết – Đức  chú thích).
* Tổ Mẫu: Hà Quý Thị, húy Quy, hiệu Từ Thục. Sinh năm Nhâm Thân, mất năm Ất Tỵ (1872 –  1905 – hưởng dương 35 tuổi -  Đức chú thích). Mộ xứ Bãi, ruộng tám miếng của nhà. Kỵ ngày 17/12 âm lịch. Thừa kế ngoại trưởng ông Ba Ngoáy. Nay tái thừa kế Ngoại tôn, ông Hai Thu.

ĐỆ THẤT THẾ TỔ
·        Tổ phụ: Tiền khóa sinh Khai Khoa, Chánh hộ Lại sung phó Hương hội Hà Quý công, húy Thõng, Tự Sỹ Nghị, hiệu Kế Chí Tiên sinh, thọ 67 tuổi, kỵ ngày 06/7 âm lịch ( sinh năm Ất Mùi 1895, mất ngày 06/7/1960, Canh Tý  – Đức chú thích). Mộ tại Đống Mưỡu Tam Quân
 Sinh hạ 3 nam, 4 nữ:
Nam:
-         Ông Hà Đắc Huyên, con là Hậu (nữ)
-         Ông Hà Văn Thuyết, con là Trọng Thi
-         Ông Hà Trọng Đính, con là Sĩ Vịnh,
Nữ:
-         Bà Hà Thị Nhị, con là Bùi Văn Nhương
-         Bà Hà Thị Man, con là Nguyễn Đình Đức
-         Bà Hà Thị Vạt, con là Lê Huệ
-         Bà Hà Thị Bính, con là Nguyễn Văn Triển
Bình sinh người dạy rất đông học trò ở Kim Bài, Tràng Cát, Quán Cốc, My  Hạ, My Thượng, Cao bộ, khoảng hơn hai trăm người. Nhàn du, người làm địa lý điểm mộ cho nhiều nhà trong vùng. Về già 50 tuổi bị thiên đầu thống, lòa cả hai mắt.
* Tổ Mẫu: Tạ Quý Thị húy Thử, hiệu Từ Sử. Kỵ ngày 17/3 âm lịch ( 1950), thọ 60 tuổi ( 1891 – 1950 – Đức chú thích). Mộ tại Tam Quân Đống Mưỡu.
ĐỆ BÁT THẾ TỔ
·        Tổ phụ: Tiền Trương Tuần dự Tư văn hội Hà Quý công, húy Đợi, tự Đắc Huyên, hiệu Trát Yên, hưởng dương 30 tuổi. Kỵ ngày 24/05 âm lịch  ( sinh năm 1914, Giáp Dần - mất năm 1943, Quý Mùi – Đức chú thích).
 Người phương phi, to lớn, tuấn tú, thông minh, tính cương trực, hào hoa, phong nhã, giao du rộng rãi, nội thất có hai bà:
-         Chính Thất: Nguyễn Quý Thị, húy Tẽo, hiệu Diệu Bình, không có con. Kỵ ngày 20/11 âm lịch. Mộ tại xứ Bãi, ruộng tám miếng của nhà
-         Kế Thất Nguyễn Thị Hiền, có một con gái là Hà Thị Hậu, lấy chồng tên là Thanh ở Hải Dương. Bà Hiền vì góa nên tái giá với người Cát Động. Cụ Đắc Huyên mộ táng tại Gò Dài xứ Bãi, song táng cùng Đệ tứ Thế tổ.
ĐỆ CỬU THẾ TỔ
·        Cụ ông kế nghiệp trưởng huynh: Hà Quý Công, húy  Văn Thuyết, thọ 68 tuổi ( Quý Hợi 1923- Canh Ngọ 1990- Đức chú thích).Kỵ ngày 11/5 âm lịch. Sinh hạ một Nam năm nữ.
·        Nam: Hà Trọng Thi, giáo viên nối nghiệp tiền nhân
·        Nữ:
-         Hà Thị Vốn, chồng là Khanh, hiện ở Sài Gòn
-         Hà Thị Tài, chồng là Thùy, hiện ở Thanh Mai
-         Hà Thị Teo, chồng là Chiến, hiện ở Sài Gòn
-         Hà Thị Dịu, chồng là An, hiện ở Sài Gòn,
-         Hà Thị Giàng, chồng là Khải, hiện ở Sài Gòn
-         Con gái nuôi là Hà Thị Lành, chồng là Thiềng
* Cụ bà: Hà Qúy Thị húy Bốn, thọ 61 tuổi. Kỵ ngày 17/3 âm lịch. Mộ ở sau chùa.
PHÂN NGÀNH THẾ HỆ 2
·        Trưởng ngành Cố Đệ Thập thúc tổ, con trai thứ ba của  Đệ Thất Thế tổ, Cố Tiên sinh Hà Sỹ Nghị là Hà Trọng Đính, sinh ngày 06/2/1929 (Kỷ Tỵ - Đức chú thích).
-         Được ăn học từ nhỏ, đến năm 1946 loạn lạc nên dừng lại ở trình độ năm thứ 3 trung học đệ nhất cấp, sau theo học lớp đào tạo sư phạm tiểu học ở tỉnh Thái Bình, về quê dạy học, đến những năm loạn lạc thì bỏ nghề, tản cư, làm ăn sinh sống.
-         Cố sinh được  4 gái 3 trai:
·        Nữ:
-         Hà Thị Vọng, Cao đẳng sư phạm, ngụ Sài Gòn;
-         Hà Thị Vượng, CĐSP, ngụ Sài Gòn;
-         Hà Thhanh Thảo, Kiểm kiện hàng Sài Gòn
*Nam:
- Hà sỹ Vịnh, thạc sỹ ngân hang, ngụ Hà nội;
- Hà Hồng Vũ, Giám đốc công ty Hà Lê Đức Phát, Sài Gòn;
- Hà Hồng Văn, đội xe nâng Cảng Sài gòn
* Cố bà: Lê Thị Vân, kỵ ngày 21/7 âm lịch. Hưởng thọ 53 tuổi. Mộ tại bãi dưới
- Nay Cố trưởng ngành trở về già, anh con trai Hà Hồng Vũ mời cố ở lại Sài Gòn hưởng dưỡng lão